Tại sao chính sách ngoại giao của VN không thay đổi sau Đại Hội Đảng

Carl Thayer - The Diplomat

- Quảng Cáo -

8/12/2015

Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam sắp sửa họp Hội Nghị Trung Ương Đảng lần thứ 13 trong tháng này. Theo tin bên trong thì đây là lúc gây cấn để chọn các ứng viên cho các chức vụ lãnh đạo cao nhất – tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng, và chủ tịch Quốc Hội.

Sau khi Hội nghị kết thúc sẽ chuẩn bị cho Đại Hội Đảng lần thứ 12 từ ngày 7 đến 9 tháng Giêng 2016. Tuy có nhiều người tranh giành các chức vụ này và giới quan sát thời cuộc không chắc nhân vật nào sẽ nắm giữ chức vụ nào, người ta dự đoán là sẽ không có thay đổi gì với chính sách ngoại giao của Việt Nam và quan hệ với các cường quốc.

Hai bài viết gần đây đưa ra đánh giá khác biệt về mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc và Hoa Kỳ trong những năm sắp tới. Bài viết thứ nhất của Joshua Kurlantzick, Hội Đồng Hoa Kỳ về Ngoại Giao (US Council on Foreign Relations) mang tựa đề “Xung đột quân sự giữa Trung Quốc và Việt Nam”. Bài viết này cũng được tóm lược trên The Diplomat.

- Quảng Cáo -

Bài viết thứ nhì của cựu ký giả BBC kỳ cựu Bill Hayton cho Trung Tâm Nghiên Cứu về Hoa Kỳ thuộc Đại Học Sydney, dự án Đối Tác An Ninh Tương Lai của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á. Bài viết có tựa đề, “Việt Nam và Hoa Kỳ: Một Đối Tác An Ninh Tương Lai”.

Theo ông Kurlantzick: Độ rủi ro đụng độ quân sự giữa Trung Quốc và Việt Nam đang gia tăng… các vụ va chạm gia tăng có thể dẫn tới đụng độ quân sự nghiêm trọng giữa hai quốc gia trong vòng từ 12 đến 18 tháng, với hệ quả nghiêm trọng cho Hoa Kỳ.

Ngược lại, ông Hayton ghi nhận là mặc dầu quan hệ song phương có bị sứt mẻ vì tranh chấp trên Biển Đông, lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc đã “cách ly” chúng ra khỏi mối quan hệ tổng thể. Hayton kết luận là trong năm 2015, quan hệ Việt-Trung yên ổn, với cả hai bên kiềm chế dư luận quần chúng. Cạnh đó, “giao dịch tiếp tục gia tăng và khách du lịch, bị đình hoãn trong cuộc khủng hoảng 2014, đã trở lại.”

Nghiên cứu của Kurlantzick xoay quanh 3 kịch bản có thể xảy ra để dẫn đến xung đột quân sự Việt-Trung – tình trạng căng thẳng gia tăng trên Biển Đông; sự cố bắn nhau ở vùng biên giới đất liền; và đụng độ vô tình trên biển hay trên không từ các cuộc tập trận giữa Việt Nam và các đối tác chiến lược mới.

Tuy không thể bác bỏ xác suất xảy ra xung đột quân sự Việt-Trung, chứng cớ Kurlantzick đưa ra không đủ thuyết phục.

Thí dụ như, trong kịch bản thứ nhất Kurlantzick viện dẫn việc đưa giàn khoan dầu vào vùng biển tranh chấp, các vụ đâm tàu, trả đũa vụ “bồi đắp đảo” qua lại như những ngòi nổ tiềm tàng của xung đột.

Chỉ có hai sự cố lớn dính đến vụ giàn khoan dầu, một vụ hồi cuối thập niên 90 và vụ kia vào năm 2014. Việt Nam phái chiến hạm ra trong vụ thứ nhất nhưng hai bên nhanh chóng làm lắng dịu tình huống. Vụ năm 2014 cho thấy đôi bên đều kềm chế. Việt Nam tuyên bố là sẽ không triển khai tàu chiến và Trung Quốc cũng giữ chiến hạm phòng bị.

Hayton cho rằng nếu Trung Quốc đặt giàn khoan dầu hoặc một công trình bán quân sự trên Vanguard Bank, “Việt Nam có thể sẽ phải có động thái mạnh”. Trái ngược với Kurlantzick, Hayton kết luận là tình huống giả định này “khó có thể trở thành xung động quân sự. Mục tiêu sẽ là buộc Trung Quốc thoái lui mà không làm đổ vỡ quan hệ.”

Đâm vào tàu và dùng súng nước là một hình thức khác của xung đột mà đôi bên dùng chừng mực trong năm 2014. Trong nửa thập niên gần đây có một số nguồn tin là tàu cảnh sát biển Việt Nam có thể đâm vào tàu đánh cá Trung Quốc (và ngược lại).

Báo chí Việt Nam gần đây tường thuật nhiều lần Trung Quốc xách nhiễu tàu dân sự Việt Nam đem đồ tiếp tế cho người trên đảo Trường Sa và Song Tử Tây. Sự kiện nghiêm trọng nhất xảy ra vào ngày 13 tháng 11 khi tàu chiến Trung Quốc chĩa súng 37mm về phía tàu tiếp tế Việt Nam cùng với các binh sĩ cầm súng nhắm bắn. Tàu tiếp tế Việt Nam phải thoái lui.

Bộ Ngoại Giao Việt Nam lên tiếng “cực lực phản đối hành động đe đọa hoặc dùng vũ lực đối với tàu Việt Nam”. Kurlantzick lập luận rằng kiểu họp báo như thế phải được xem như dấu hiệu của gia tăng căng thẳng giữa hai bên. Tuy nhiên những sự cố thế này là những việc tương đối cách biệt và những phát biểu của viên chức Việt Nam nên được xem như là những phản hồi cho có lệ.

Kurlantzick khẳng định rằng, “Việt Nam phản ứng mạnh mẽ” đối với việc “bồi đắp đảo” của Trung Quốc bằng cách “bồi đắp đảo” riêng của Việt Nam là không chính xác. Theo tổ chức Minh Bạch Hàng Hải Á Châu (Asia Maritime Transparency Initiative), Việt Nam có lẽ bắt đầu bồi đắp đảo trước Trung Quốc. Việc “bồi đắp đảo” của Việt Nam rất khiêm nhượng và không có vẻ là phản ứng đối với nỗ lực bồi đắp đảo của Trung Quốc.

Kịch bản thứ nhì của Kurlantzick cũng đáng ngờ tương tự. Ông cho là “biên giới Việt-Trung trở nên căng thẳng khi lực lượng biên phòng nổ súng qua lại ít nhất hai lần trong năm 2014 và 2015.” Ông cũng thừa nhận là “lý do của các sự cố này vẫn không rõ”. Đúng vậy. Trong kỳ căng thẳng tháng 5 lúc Trung Quốc đưa giàn khoan dầu Hải Dương 981 vào vùng tranh chấp, biên giới Việt-Trung vẫn tấp nập người qua lại buôn bán hàng hóa. Biên giới Việt-Trung ổn định và không có chỉ dấu căng thẳng gì gần đây như Kurlantzick ám chỉ.

Kịch bản thứ ba của Kurlantzick – tác động không dự tính trước liên hệ đến các cuộc tập trận giữa Việt Nam và các đối tác chiến lược mới – trình bày sai lệch diễn biến thực sự. Việt Nam chưa từng và không chắc tham gia vào tập trận quân sự với các đối tác chiến lược.

Cách dùng từ “đối tác chiến lược” của Kurlantzick làm lệch ý nghĩa mà Việt Nam và các đối tác chiến lược hiểu nghĩa của từ đó.

Kurlantzick đồng thời tính luôn đối tác chiến lược của Việt Nam trong bốn chỉ dấu báo động sớm chiến lược của xung đột tiềm tàng. Lấy thí dụ, ông cho rằng việc Việt Nam tuyên bố đối tác chiến lược với một quốc gia Á Châu khác “nên được xem như là dấu hiệu tiềm tàng của gia tăng căng thẳng với Bắc Kinh.”

Đối tác chiến lược của Việt Nam không phải là quốc phòng hay thỏa thuận quân sự. Chúng là các tài liệu toàn diện, nhiều khía cạnh bao gồm cả chính trị, ngoại giao, kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa, và hợp tác con người. Tất cả các tài liệu này đều có một đoạn văn ngắn về hợp tác an ninh và quốc phòng gồm các chuyến thăm viếng cấp cao, trao đổi thông tin, thăm bến cảng, v.v…

Cả Trung Quốc và Việt Nam đều có những hiệp định đối tác chiến lược với cùng một số quốc gia. Chẳng hạn như Indonesia.

Việt Nam tiến hành các hoạt động hải quân – thay vì tập trận quân sự – chung với Hoa Kỳ, chẳng hạn như thực hiện Quy Ước Chạm Trán Bất Ngờ Trên Biển. Việt Nam đồng thời tiến hành các cuộc thao dượt tìm kiếm và cứu nguy cấp thấp với các quốc gia khác. Cùng lúc, Việt Nam và Trung Quốc tiến hành tuần tra chung trong Vịnh Bắc Việt mỗi sáu tháng. Các chuyến này bao gồm luôn thao dượt tìm kiếm và cứu nguy.

Tài liệu chuyên khảo của Hayton đưa ra một tóm lược hữu ích về hợp tác quân sự Việt-Trung. Hayton trích lời của Đại tá Trần Đăng Thanh, giảng viên tại Học Viện Chính Trị, Bộ Quốc Phòng, lập luận rằng cách duy nhất để gìn giữ hòa bình và ổn định với Trung Quốc “là tránh đối đầu và gìn giữ tình đoàn kết giữa nhân dân hai nước Việt-Trung.”

Tóm lại xét theo sự việc đã xảy ra thì Trung Quốc và Việt Nam đã rất cẩn thận để làm giảm thiểu rủi ro có đụng độ vô tình giữa lực lượng quân sự. Trung Quốc và Việt Nam đã và sẽ tiếp tục chế ngự các điểm nóng tiềm tàng. Thật vậy, tài liệu của Bill Hayton cung cấp chi tiết về 15 buổi gặp và trao đổi giữa các viên chức quân đội Việt-Trung kể từ vụ khủng hoảng giàn khoan năm 2014.

Hayton cũng đề cập đến vấn đề đối tác chiến lược Mỹ-Việt. Nhưng ở đây có một số hiểu lầm. Thí dụ, Hayton nói rằng “đối tác chiến lược toàn diện” là cấp cao nhất trong từ ngữ ngoại giao của Việt Nam, và Việt Nam ở cấp này duy nhất với Trung Quốc và Nga. Thật ra, quan hệ với Trung Quốc được gọi là “đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” – cấp cao nhất trong ngữ vựng ngoại giao của Việt Nam. Nga chỉ ở mức đối tác chiến lược toàn diện.

Hayton cũng ghi nhận là cả Úc và Hoa Kỳ ở bậc chót của hệ thống cấp bậc, tức đối tác toàn diện. Thật ra Ngoại trưởng Hillary Clinton là người đầu tiên đề nghị làm đối tác chiến lược với Việt Nam. Điều này ngụ ý quan hệ quân sự và quốc phòng ở mức gần gũi hơn Việt Nam mong đợi. Năm 2013 cả hai bên thoái lui trong việc trao đổi về đối tác chiến lược và đồng ý trở thành đối tác toàn diện thay vào đó.

Trước đó, cựu Thủ tướng Úc Kevin Rudd khước từ đề nghị của Việt Nam làm đối tác chiến lược với lý do đó chỉ là biểu kiến và quan hệ quốc phòng với Việt Nam thiếu mật thiết như quan hệ quốc phòng của Úc với các đối tác chiến lược khác.

Hayton kết thúc bản phân tích với những đối tác chiến lược khác của Việt Nam như Ấn Độ, Nhật Bản và Nga – và hàm ý là chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại của Việt Nam là một diễn biến mới đây.

Vào tháng Sáu năm 1991, Đại hội đảng lần thứ 7 tán thành chính sách đa dạng và đa phương hóa quan hệ kinh tế của Việt Nam với tất cả các quốc gia và tuyên bố rằng “Việt Nam muốn trở thành bạn với tất cả các quốc gia trên cộng đồng thế giới… không phân biệt hệ thống chính trị xã hội.” Việt Nam ưu tiên quan hệ với Liên Sô, Lào, Cam Bốt, Trung Quốc, Cuba và “bạn mới” – Đông Nam Á, Tây Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ.

Một thập niên sau, vào tháng Tư năm 2001, Đại hội đảng lần thứ 9 xác nhận “Việt Nam muốn làm bạn và đối tác tin cậy với tất cả quốc gia” qua đa dạng và đa phương hóa quan hệ quốc tế. Trong suốt hơn một thập niên rưỡi vừa qua, Việt Nam đã đeo đuổi mục tiêu này như là khung sườn chính sách ngoại giao chiến lược nền tảng.

Kurlantzick chấm dứt bài nghiên cứu với bảy đề nghị về cách Hoa Kỳ làm giảm mối đe dọa xung đột vũ trang giữa Trung Quốc và Việt Nam. Hayton kết luận bài viết với đề nghị Hoa Kỳ có thể thúc đẩy Việt Nam trở thành đối tác chiến lược tích cực hơn bằng cách tôn trọng hơn hệ thống chính trị độc đảng của họ. Cả hai tác giả đều đã không nắm vững chính sách ngoại giao nhiều mặt của Việt Nam bao gồm, bên cạnh Trung Quốc và Hoa Kỳ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Âu Châu, và Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á.

Tóm lại, Việt Nam sẽ tiếp tục đeo đuổi chính quân bằng đa cực – đa dạng hoá và đa phương hóa quan hệ – hơn là một chính sách hạn hẹp quân bằng quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ trong những năm theo sau Đại hội đảng lần thứ 12.

Hoàng Thuyên lược dịch

Nguồn: The Diplomat

- Quảng Cáo -

Chúng Tôi Mong Có Góp Ý Kiến Thêm Từ Quý Vị

Please enter your comment!
Please enter your name here