Văn Nguyên
Ngày 28-8, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố mọi hoạt động của nước ngoài tại Hoàng Sa, trong đó có đá Hải Sâm và bãi Ba Ba, nếu không được Việt Nam cho phép là “hoàn toàn phi pháp và vô giá trị”, đồng thời yêu cầu chấm dứt và không tái diễn. Điều đáng chú ý là Việt Nam không nêu đích danh Trung Quốc.
Trong khi đó, phía Trung Quốc lập tức khẳng định Tây Sa là “lãnh thổ vốn có của Trung Quốc” và cho rằng Việt Nam không có quyền phán xét các hoạt động xây dựng của Bắc Kinh.
Vì vậy, câu hỏi đặt ra là: “kiên quyết phản đối” mà không dám gọi tên quốc gia đã chiếm đóng rồi xây dựng và quân sự hóa Hoàng Sa thì hiệu quả thực tế đến đâu?
Ngoại giao không chỉ nằm ở lời tuyên bố, mà còn ở cách một quốc gia bảo vệ lập trường của mình bằng hành động, bằng hồ sơ pháp lý và bằng những chứng cứ lịch sử có sức thuyết phục quốc tế.
Sau Hiệp định Genève 1954, Hoàng Sa và Trường Sa nằm dưới sự quản lý của Việt Nam Cộng hòa. Tại Hội nghị San Francisco năm 1951, đại diện Quốc gia Việt Nam cũng công khai khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo mà không gặp phản đối tại hội nghị.
VNDCCH (miền Bắc) là đã nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS qua công hàm 1958 cũng như việc đứng cùng chiến tuyến giúp TQ đánh và cướp HS của VNCH.
CHXHCNVN là chế độ “tiếp nối” của VNDCCH. Trách nhiệm của VNDCCH về HS và TS là trách nhiệm của CHXHCNVN.
Do đó, việc phủ nhận tính chính thống của Việt Nam Cộng hòa trong lịch sử chủ quyền biển đảo là phủ nhận quyền kế thừa mọi di sản từ VNCH. Gọi VNCH là “nguỵ” có nghĩa là khoảng thời gian 1954-1975 HS và TS là “lãnh thổ vô chủ”, có nghĩa là CHXHCNVN không thể chứng minh sự “liên tục quốc gia” của VN tại HS và TS.
Cuối cùng, câu chuyện Hoàng Sa không thể chỉ được giải quyết bằng những câu “kiên quyết phản đối”. Bởi chủ quyền không chỉ được khẳng định bằng lời nói. Nó còn được bảo vệ bằng lịch sử, pháp lý, chứng cứ và sự nhất quán của quốc gia qua thời gian./.











Để lại một bình luận