Nguyễn Công Bằng
Chiến dịch quân sự tại Venezuela
Chiến dịch quân sự của Mỹ ngày 3/1 tại Venezuela nhằm bắt giữ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro và phu nhân là một hành động vừa liều lĩnh, táo bạo, vừa vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế. Đáng chú ý hơn nữa, chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump hiện tuyên bố sẽ “điều hành Venezuela” trên cơ sở tạm thời, đồng thời tìm cách kiểm soát các lợi ích dầu mỏ khổng lồ của nước này.
Chiến dịch ở Venezuela rõ ràng là vì dầu mỏ. Trump cũng từng công khai nói về việc “lấy lại dầu mỏ.” Tuy nhiên, bất chấp những tranh cãi trong chính trị nội bộ và “thành tích” cầm quyền nhiều tai tiếng của chính quyền Maduro, Venezuela vẫn là một quốc gia có chủ quyền được cộng đồng quốc tế công nhận. Điều này bao gồm cả quyền chủ quyền vĩnh viễn đối với tài nguyên thiên nhiên. Vì vậy, bất kỳ hành động nào của Mỹ nhằm chiếm đoạt dầu mỏ Venezuela đều là một hành vi vi phạm luật pháp quốc tế.
Dù vậy, Mỹ không tìm cách biện minh cho các hành động quân sự của mình bằng luật pháp quốc tế. Thay vào đó, chính quyền Trump đang dựa hoàn toàn vào luật pháp của Mỹ, qua đó phớt lờ các quy tắc toàn cầu. Đây là một chiến lược mới nhưng không có bất kỳ cơ sở pháp lý quốc tế nào theo bất cứ phương diện nào.
Chân lý thuộc về kẻ mạnh
Chính phủ Mỹ liên tục nêu ra 2 vấn đề chính: Vai trò của Venezuela trong dòng người di cư trái phép vào Mỹ và việc nước này bị cáo buộc hỗ trợ hoạt động buôn bán ma túy vào Mỹ. Cả hai đều là chủ đề nóng trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2024 và là trụ cột trong phong trào “Nước Mỹ trước tiên” (MAGA).
Tính chính danh của chính quyền Maduro cũng bị đặt dấu hỏi, với các cuộc bầu cử gây tranh cãi vào năm 2018 và 2024. Tuy nhiên, việc một chính quyền có chính danh hay không không phải là cơ sở pháp lý để một quốc gia bên ngoài thực hiện việc can thiệp quân sự. Thay vào đó, chính quyền Tổng thống Trump chỉ dựa vào luật pháp Mỹ để biện minh cho hành động tại Venezuela. Cụ thể, bản cáo trạng của đại bồi thẩm đoàn Mỹ năm 2020, buộc tội Maduro và vợ liên quan đến buôn bán ma túy, được coi là nền tảng pháp lý cho chiến dịch này.
Việc Maduro bị đưa ra trước ống kính truyền hình ở New York như một nghi phạm hình sự thông thường càng cho thấy vai trò trung tâm của luật pháp Mỹ trong toàn bộ vụ việc. Chưa từng có tiền lệ một nguyên thủ quốc gia lại bị bắt ngay tại dinh tổng thống của mình, bị giam giữ và xử lý theo quy trình pháp lý của Mỹ chỉ trong vòng 24 giờ.
Dự kiến, Maduro và vợ sẽ phải đối mặt với xét xử hình sự. Việc ông là tổng thống Venezuela – vốn đáng lẽ được hưởng quyền miễn trừ của nguyên thủ quốc gia – nhiều khả năng sẽ bị gạt sang một bên, do chính quyền Tổng thống Trump không công nhận tính hợp pháp của nhiệm kỳ tổng thống này.
Tương tự, các tòa án Mỹ có thể sẽ không quan tâm nhiều đến tính hợp pháp của việc Mỹ sử dụng lực lượng ngoài lãnh thổ để bắt giữ Maduro tại một quốc gia khác. Theo thông lệ, sau khi có cáo trạng, Mỹ có thể yêu cầu dẫn độ thông qua lệnh bắt quốc tế. Tuy nhiên, chính quyền Trump dường như cho rằng Venezuela sẽ phớt lờ yêu cầu này, nên đã trực tiếp sử dụng quân đội Mỹ đột nhập vào khu dinh thự ở Caracas để bắt giữ Maduro, sau đó bàn giao cho Bộ Tư pháp Mỹ.
Tuy nhiên, việc Mỹ can thiệp quân sự vào Venezuela sẽ càng tiếp thêm động lực cho một xu hướng nguy hiểm: Các cường quốc có thể tùy tiện can thiệp quân sự vào nước khác. Nhiều ý kiến cho rằng cuộc can thiệp lần này vi phạm Hiến chương Liên Hợp Quốc (LHQ) và luật pháp quốc tế, vốn cấm việc sử dụng vũ lực. Dù Trump nói rằng ông muốn ngăn chặn Chiến tranh Thế giới thứ ba, nhưng thực tế ông lại đang khiến bánh xe lịch sử quay ngược lại theo hướng đối lập.
Điều đặc biệt đáng lo ngại là sự can thiệp này có thể tác động đến hành động của Trung Quốc và Nga. Việc Venezuela, một quốc gia thân cận với họ, bị tấn công đã khiến Bắc Kinh và Moskva phản đối mạnh mẽ. Sự phẫn nộ đó có lẽ là thật. Tuy nhiên, về mặt chiến lược trung hạn, cả hai cường quốc này chắc chắn đang tính toán rằng những lợi ích thu về sẽ vượt xa tổn thất. Nếu Mỹ có thể can thiệp quân sự vào “sân sau” của mình để bảo vệ lợi ích quốc gia, thì các nước khác cũng phải được phép làm điều tương tự, hay cụ thể hơn, nếu Mỹ có thể tuyên bố một nhà lãnh đạo là bất hợp pháp, sau đó lật đổ nhà lãnh đạo này và điều hành đất nước, tại sao các quốc gia khác lại không thể làm như vậy?
Không khó để hình dung Trung Quốc và Nga sẽ sử dụng lập luận này để dễ dàng hành động cứng rắn hơn tại các khu vực xung quanh mình. Việc Tổng thống Nga Vladimir Putin sử dụng sự can thiệp của Mỹ vào “sân sau” của mình như một công cụ tuyên truyền để biện minh cho cuộc tấn công Ukraine là điều hoàn toàn có thể đoán trước.
Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với gần như toàn bộ Biển Đông và coi Eo biển Đài Loan trên thực tế là “sân sau” của mình. Trong thời gian tới, Bắc Kinh có thể gia tăng việc sử dụng sức mạnh nhằm ngăn cản tàu chiến và tàu thuyền nước ngoài hoạt động tại các vùng biển này.
Lợi ích là cốt lõi
Trong nhiều tháng qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump liên tục cảnh báo về mối quan hệ ngày càng thân thiết giữa các nước Mỹ Latinh với Trung Quốc, đồng thời tìm cách điều chỉnh chính sách ngoại giao. Giờ đây, họ đang sử dụng vũ lực để củng cố chiến dịch của mình.
Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio mới đây đã tuyên bố rõ ràng rằng một trong những mục tiêu khiến Mỹ can thiệp quân sự vào Venezuela là nhằm hạn chế sự đầu tư của các đối thủ của Mỹ, bao gồm cả Trung Quốc, vào ngành công nghiệp dầu mỏ của quốc gia Nam Mỹ này. Ông nói: “Đây là Tây Bán cầu. Đây là nơi chúng ta sinh sống và chúng ta sẽ không cho phép Tây Bán cầu trở thành căn cứ hoạt động của các đối thủ cạnh tranh cũng như kẻ thù của Mỹ.”
Bắc Kinh là khách hàng mua dầu lớn nhất của Venezuela, với hơn 80% lượng dầu của Caracas được xuất khẩu sang Trung Quốc mỗi năm. Mặc dù Trung Quốc không phụ thuộc vào lượng dầu đó (chỉ chiếm khoảng 4% lượng nhập khẩu của nước này), nhưng đó là nền tảng của cái mà hai quốc gia mô tả là “quan hệ đối tác chiến lược toàn diện trong mọi điều kiện.”
Trong bối cảnh Trump tuyên bố sẽ tiếp tục bán dầu cho Trung Quốc, cuộc tấn công của Mỹ vào Venezuela gửi một thông điệp rõ ràng đến Bắc Kinh: Động thái này thể hiện quyền lực và việc tái thiết lập sự thống trị của Mỹ trong khu vực. Những hệ quả của điều này có thể ảnh hưởng đến toàn bộ cán cân quyền lực kinh tế và địa chính trị hiện tại ở Tây Bán cầu.
Trump đã bày tỏ tham vọng không lay chuyển về việc tăng cường sức mạnh toàn cầu của Mỹ ở Tây Bán cầu, và điều đó ngầm cảnh báo Trung Quốc rằng khu vực này đóng cửa với các cường quốc bên ngoài.
Việc đe dọa bằng lời nói, và giờ là bằng quân sự, có thể buộc các quốc gia Mỹ Latinh khác phải xem xét lại mối quan hệ của họ với Trung Quốc. Điều dễ hiểu là bởi vì họ lo lắng cho tương lai và an ninh của chính mình. Hơn nữa, bất chấp những lời lẽ hùng biện và sự ủng hộ chính trị, Bắc Kinh đã không thể bảo vệ Maduro khỏi việc bị Mỹ bắt giữ, cũng không thể cung cấp cho Caracas bất cứ điều gì để tự vệ.
Việt Nam làm gì?
Nếu Trung Quốc dựa vào tình hình mà có thể chiếm Đài Loan, thì sẽ ra sao? Câu chuyện này cho thấy những khó khăn đang chất chứa trước mặt. Chính phủ Donald Trump mới phê duyệt bán vũ khí hơn 11,1 tỉ USD cho Đài Loan, điều này cho thấy những lời nói nhẹ nhàng hoặc tâng bốc ông Tập Cận Bình, không phản ánh thực chất của lời nói. Hành động của Mỹ mang tính thực chất rất lớn. Nếu Đài Loan bị gay cấn, Nhật Bản cũng sẽ bị gay cấn, bà Takaichi – Thủ tướng Nhật đã nói rõ như vậy.
Đài Loan mà nảy sinh chiến tranh thì Việt Nam cũng sẽ bị vạ lây. Đài Loan gần các cơ sở trên biển của Việt Nam, gần đường thương mại quan trọng, và quan trọng hơn là Đài Loan đang chiếm giữ cấu trúc quan trọng là Ba Bình thuộc Trường Sa. Đài Loan xảy ra chiến tranh với Trung Quốc thì ai sẽ kiểm soát Ba Bình đây? Và vì vậy, Việt Nam cần “tỉnh ngủ” mà tính cho tốt.-













Để lại một bình luận